|  | 

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

Hướng dẫn của Công ước Đa dạng sinh học về xây dựng chỉ thị quan trắc Đa dạng Sinh học Quốc gia và khuyến nghị việc áp dụng ở Việt Nam

[:vi]


Hoàng Thanh Nhàn1,  Vũ Minh Hoa2
1Cục Bảo tồn Đa dạng Sinh học, Tổng cục Môi trường
2Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội

Đặt vấn đề 

Công ước về Đa dạng sinh học (CBD) ra đời năm 1992 đã thừa nhận tầm quan trọng của việc bảo vệ tính đa dạng sinh học đối với sự phát triển bền vững của nhân loại. Đa dạng sinh học (ĐDSH) cung cấp một loạt các lợi ích trực tiếp và gián tiếp cho con người thông qua ba giá trị chính là: giá  trị bảo vệ thiên nhiên và môi trường (giá trị về chức năng sinh thái), giá trị kinh tế (giá trị sử dụng trực tiếp) và giá trị văn hóa, xã hội.

Trong khuôn khổ của CBD, các quốc gia trên thế giới đã cam kết bảo tồn, sử dụng bền vững đa dạng sinh học và chia sẻ công bằng lợi ích thu được từ nguồn tài nguyên này. Để đạt được mục tiêu tổng quát trên, cần phải có kiến thức về đa dạng sinh học cũng như cần đánh giá được hiệu quả của các chính sách, các chiến lược cũng như các phương án quản lý. Vì thế, CBD đã yêu cầu mỗi quốc gia thành viên phải xác định được các thành phần nào của ĐDSH có tầm quan trọng bảo tồn và sử dụng bền vững, rồi từ đó quan trắc hay giám sát các thành phần này xem chúng biến động ra sao (trong điều kiện tự nhiên, trước những biến động kinh tế xã hội và khi chịu tác động của các chính sách bảo tồn), đặc biệt là đối với những thành phần cần có biện pháp bảo tồn cấp bách và những thành phần có nhiều tiềm năng sử dụng bền vững.

[:en]


Hoàng Thanh Nhàn1,  Vũ Minh Hoa2
1Cục Bảo tồn Đa dạng Sinh học, Tổng cục Môi trường
2Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội

Đặt vấn đề 

Công ước về Đa dạng sinh học (CBD) ra đời năm 1992 đã thừa nhận tầm quan trọng của việc bảo vệ tính đa dạng sinh học đối với sự phát triển bền vững của nhân loại. Đa dạng sinh học (ĐDSH) cung cấp một loạt các lợi ích trực tiếp và gián tiếp cho con người thông qua ba giá trị chính là: giá  trị bảo vệ thiên nhiên và môi trường (giá trị về chức năng sinh thái), giá trị kinh tế (giá trị sử dụng trực tiếp) và giá trị văn hóa, xã hội.

Trong khuôn khổ của CBD, các quốc gia trên thế giới đã cam kết bảo tồn, sử dụng bền vững đa dạng sinh học và chia sẻ công bằng lợi ích thu được từ nguồn tài nguyên này. Để đạt được mục tiêu tổng quát trên, cần phải có kiến thức về đa dạng sinh học cũng như cần đánh giá được hiệu quả của các chính sách, các chiến lược cũng như các phương án quản lý. Vì thế, CBD đã yêu cầu mỗi quốc gia thành viên phải xác định được các thành phần nào của ĐDSH có tầm quan trọng bảo tồn và sử dụng bền vững, rồi từ đó quan trắc hay giám sát các thành phần này xem chúng biến động ra sao (trong điều kiện tự nhiên, trước những biến động kinh tế xã hội và khi chịu tác động của các chính sách bảo tồn), đặc biệt là đối với những thành phần cần có biện pháp bảo tồn cấp bách và những thành phần có nhiều tiềm năng sử dụng bền vững.

[:][:vi]

Quan trắc ĐDSH (biodiversity monitoring) là việc đo đạc lặp đi lặp lại trực tiếp hoặc gián tiếp một cách có hệ thống các chỉ thị phản ánh hiện trạng, xu hướng biến đổi của ĐDSH, các ảnh hưởng bất lợi đối với tài nguyên ĐDSH để từ đó giúp các nhà hoạch định chính sách có các hoạt động ưu tiên, cải thiện công tác quản lý các hệ sinh thái, các loài và nguồn gen.

Do tính phức tạp của ĐDSH, sự hiểu biết chưa hoàn chỉnh về phân loại học cũng như do chi phí cao của các chương trình đánh giá ĐDSH nên quan trắc ĐDSH chủ yếu dựa vào một số chỉ thị quan trắc ĐDSH. Các chỉ thị này là những số liệu/dữ liệu ở dạng mô tả, định tính hay định lượng về các vấn đề môi trường, có tính chất đại diện cho hiện trạng và xu hướng biến đổi của ĐDSH.

Bài viết này nhằm tổng quan về phương pháp luận và cách tiếp cận trong hướng dẫn của CBD về xây dựng bộ chỉ thị quan trắc ĐDSH, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng bộ chỉ thị và thực hiện quan trắc ĐDSH ở Việt Nam. 

Nguồn: CRES: Kỷ yếu hội thảo quốc gia Môi trường trong phát triển bền vững, năm 2010

[:en]

Quan trắc ĐDSH (biodiversity monitoring) là việc đo đạc lặp đi lặp lại trực tiếp hoặc gián tiếp một cách có hệ thống các chỉ thị phản ánh hiện trạng, xu hướng biến đổi của ĐDSH, các ảnh hưởng bất lợi đối với tài nguyên ĐDSH để từ đó giúp các nhà hoạch định chính sách có các hoạt động ưu tiên, cải thiện công tác quản lý các hệ sinh thái, các loài và nguồn gen.

Do tính phức tạp của ĐDSH, sự hiểu biết chưa hoàn chỉnh về phân loại học cũng như do chi phí cao của các chương trình đánh giá ĐDSH nên quan trắc ĐDSH chủ yếu dựa vào một số chỉ thị quan trắc ĐDSH. Các chỉ thị này là những số liệu/dữ liệu ở dạng mô tả, định tính hay định lượng về các vấn đề môi trường, có tính chất đại diện cho hiện trạng và xu hướng biến đổi của ĐDSH.

Bài viết này nhằm tổng quan về phương pháp luận và cách tiếp cận trong hướng dẫn của CBD về xây dựng bộ chỉ thị quan trắc ĐDSH, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng bộ chỉ thị và thực hiện quan trắc ĐDSH ở Việt Nam. 

Nguồn: CRES: Kỷ yếu hội thảo quốc gia Môi trường trong phát triển bền vững, năm 2010

[:]

ABOUT THE AUTHOR

POST YOUR COMMENTS

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Name *

Email *

Website