Đánh giá chất lượng nước của lưu vực sông ĐU (thái Nguyên) dựa trên các chỉ số thủy lý -hóa và chỉ số sinh học


Nguyễn Thị Hoa1, Hoàng Thị Thu Hương2, Peter LM Goethals3

1Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I

2Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

3Khoa Sinh thái ứng dụng, Trường Đại học Ghent, Bỉ

Ô nhiễm môi trường ở lưu vực sông đã nhận được sự quan tâm của cộng đồng và các tổ chức môi trường. Trong những năm gần đây, do tầm quan trọng kinh tế và xã hội, chính phủ đã lưu tâm đến ba lưu vực sông bao gồm sông Cầu và sông Nhuệ – Đáy ở phía Bắc và sông Đồng Nai – Sài Gòn ở miền Nam (Cục BVMT, 2006). Sông Đu là một trong những nhánh chính phía thượng lưu của sông Cầu với chiều dài khoảng 44 km và chiều rộng khoảng 18 km. Sông Đu cung cấp nước cho các hoạt động thủy lợi, nông nghiệp, công nghiệp và bị ảnh hưởng bởi hoạt động trên (Sở Tài nguyên Môi trường Thái Nguyên, 2006). Hậu quả là sự ô nhiễm môi trường đang dần tăng do các hoạt động công nghiệp, sử dụng hóa chất trong nông nghiệp và quá trình đô thị hóa.

Ở Việt Nam, chất lượng nước thường được đánh giá dựa trên các chỉ số hóa học, vật lý và các thông số vi sinh vật như nhu cầu oxy sinh học, trầm tích lơ lửng và số lượng vi khuẩn. Các phương pháp này thường bị chỉ trích do chỉ đánh giá chất lượng nước ở thời điểm thu mẫu (Hellawell, 1997). Ngược lại, sử dụng phương pháp sinh học được xem là một công cụ cần thiết để đánh giá tổng thể chất lượng môi trường. Hầu hết các phương pháp đánh giá chất lượng nước ở các dòng chảy sử dụng các chỉ thị sinh học của quần xã. Trong số các nhóm sinh vật trong hệ sinh thái thủy vực, động vật không xương sống cỡ lớn (ĐVKXSCL) được coi như chỉ thị tốt về chất lượng của dòng chảy nước ngọt (Rosenberg và Resh, 1993). Ở Việt Nam, nghiên cứu sơ bộ về việc áp dụng phương pháp này đã được thực hiện ở những dòng sông nhỏ giai đoạn 1996-1998 do Nguyễn Xuân Quýnh và các cộng sự (2001). Dựa trên bản gốc của BMWP (Biological Monitoring Working Party) và sửa đổi BMWP của Thái Lan (BMWPTHAI), các tác giả đề xuất điểm hệ thống của BMWPVIET phù hợp với điều kiện cụ thể tại Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quýnh và các cộng sự (2001) được thực hiện ở các suối có điều kiện gần như nguyên sơ và các địa điểm thu mẫu ít bị ảnh hưởng từ hoạt động của con người. Do vậy cần thiết tiến hành các nghiên cứu ở các khu vực khác nhau để nâng cao độ tin cậy của BMWPVIET và đưa ra kết luận chung về việc sử dụng các phương pháp sinh học trong việc đánh giá chất lượng nước tại Việt Nam. Mục đích của nghiên cứu này nhằm đánh giá chất lượng nước của lưu vực sông Đu dựa trên các phương pháp lý – hóa học (sử dụng tiêu chuẩn chất lượng nước của Việt Nam và Bỉ) đồng thời áp dụng các chỉ số BMWPVIET, ASPTVIET (Average Score Per Taxon của Việt Nam) và EPT (Ephemeroptera, Plecoptera, Trichoptera) dựa trên ĐVKSXCL.