BÀN VỀ VĂN HÓA VỚI ĐẤT NGẬP NƯỚC HÀ NỘI


Nhân bàn về Mối liên hệ giữa các khía cạnh văn hóa với việc quản lý bảo tồn và sử dụng khôn khéo đất ngập nước Hà Nội (đề tài nghiên cứu năm 2009-2010, do Th.S. Trương Thị Thanh Huyền chủ trì), Trung tâm xin gửi tới các độc giả có mối quan tâm một số bình luận của PGS.TS. Lê Diên Dực, chuyên gia về đất ngập nước Việt Nam.

Hy vọng những ý tưởng trong bài bình luận này sẽ mang đến một cách nhìn mới, đa chiều và toàn diện hơn cho các nhà nghiên cứu, quản lý và hoạch định chính sách, cho cộng đồng trong nghiên cứu, quản lý và sử dụng khôn khéo đất ngập nước Việt Nam.

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, đã có nhiều sự kiện thể hiện mối liên hệ giữa văn hóa với sử dụng đất ngập nước như Ví dụ điển hình về ĐNN và nền văn minh sông Nile và Ai Cập cổ đại. Không có gì mô tả quan hệ giữa nước, đất ngập nước và sự tồn tại của con người bằng trường hợp của con sông Nile và Ai Cập cổ đại. Những chi nhánh của sông Nile và dòng chảy của nó đã quyết định vận mệnh và số phận của nền văn minh lộng lẫy đã từng phát triển trong khu vực và để lại dấu ấn đậm nét.

 

Trong thời kỳ lũ, sông Nile đã làm ngập vùng đất đen dọc theo hai bờ sông, tạo điều kiện tốt cho việc trồng cấy lúa mì và lúa mạch trong tháng 9 và thu hoạch vào tháng 3 hoặc tháng 4 năm sau, rồi lại đến mùa hè khô hạn và chu kỳ duy trì sự sống lại được lặp lại.

 

Tuy nhiên, thời tiết thay đổi đã làm dòng chảy sông giảm đáng kể và chỉ làm lụt được một phần nhỏ của đất canh tác và nạn đói nghiêm trọng đã xảy ra là không tránh khỏi. Điều này làm giảm quyền lực của nhà vua và lộn xộn về chính trị đã xảy ra. Đế chế Ai Cập cổ đại đã sụp đổ vào năm 2160 trước Công nguyên.

Một ví dụ khác về tương quan giữa văn hóa và đất ngập nước là Trường hợp hồ Carla ở Hy Lạp thuộc Địa Trung Hải.

Khu vực Thessala phì nhiêu ở trung tâm Hy Lạp phụ thuộc vào nước của vùng Bảy Hồ từ đầu thế kỷ 20, nhưng chúng đã không còn tồn tại trong thời gian gần đây. Hồ Carla là hồ lớn nhất, là một vùng đất ngập nước quan trọng của vùng Địa Trung Hải cho nghề cá và chim di cư, đã bị thoát nước vào những năm 60 để làm nông nghiệp. Kết quả là cộng đồng địa phương phụ thuộc vào nghề cá trên hồ đã bị phá hủy và những hoạt động mang tính truyền thống của địa phương cũng bị biến mất do một số cư dân địa phương đã chuyển lên  thành phố, một số còn lại gắng canh tác trên đất đã bị thoát nước.

Từ những dẫn chứng trên đây cho thấy, có mối liên hệ khăng khít giữa đất ngập nước và văn hóa.

Tại Việt Nam, nhiều nét văn hóa liên quan đến đất ngập nước đã được làm rõ từ những nghiên cứu của Hà Văn Tấn, 1994; Phạm Bình Quyền và cs., 2002; Piere Clement và Nathalie Lancret, 2005; Trương Thanh Huyền và Trương Quang Học, 2005; Anh Trúc, 2005; Trần Quốc Vượng, 2005; Trần Huy Liệu, 2009; Đặng Văn Bài, 2010; Trương Quang Học và Phan Phương Thảo, 2010; Nguyễn Vinh Phúc, 2010; Hoàng Văn Thắng và Lê Diên Dực, 2010, v.v… Những tài liệu cho thấy: Thăng Long – Hà Nội mang đậm dấu ấn của nền văn minh sông nước. Thăng Long với đặc trưng văn minh lúa nước và tập quán đắp đê làm thủy lợi. Tổ chức đô thị của Thăng Long – Hà Nội mang đậm dấu ấn cộng đồng phố làng trong đô thị bên cạnh sông và hồ. Mạng lưới sông hồ dày đặc đã tạo nên hệ thống giao thông thuận lợi cho việc đi lại giao lưu giữa thủ đô và các vùng lân cận và quốc tế. Sông hồ Hà Nội mang đậm dấu ấn trong kiến trúc Hà Nội xưa và nay… Đất ngập nước Hà Nội là trung tâm vui chơi giải trí tinh thần, gắn liền với các lễ hội văn hóa đặc trưng…

Tuy nhiên, bàn về những giá trị văn hóa của đất ngập nước mà không có sự liên hệ với chức năng và các dịch vụ hệ sinh thái khác của đất ngập nước (bao gồm: cung cấp, điều chỉnh và hỗ trợ) thì sẽ không thể có cái nhìn về hệ sinh thái đất ngập nước như một thực thể hoàn chỉnh, trong đó, mọi thành phần có mối quan hệ tác động qua lại khăng khít với nhau. Chẳng hạn, sông Tô Lịch trước đây nối với sông Hồng nên mới có đủ nước để tạo nên một con sông có nước trong xanh và du thuyền nhà vua mới căng buồm du ngoạn trên sông Tô được. Từ khi sông Tô Lịch không được nước sông Hồng nuôi dưỡng, nó đã trở thành kênh dẫn nước thải và mất luôn cả văn hóa vua du ngoạn và đua thuyền trên sông Tô.

Về chức năng cung cấp, phải có cá, sen và chim sâm cầm thì mới có văn hóa làng chài, chim sâm cầm  tiến vua và văn hóa ướp chè sen và trà đạo bằng chè ướp nhụy hoa sen, v.v… Và cuối cùng là chức năng hỗ trợ, đất ngập nước làm quay vòng chất dinh dưỡng gắn liền với chức năng tự làm sạch nước, đồng thời tạo năng suất sơ cấp cho chuỗi thức ăn phức tạp của hồ Tây.

Cũng vì thiếu cách nhìn nhận như vậy mà trong phần khuyến nghị, đề tài nghiên cứu đã không nhắc đến hồi phục sông Tô Lịch và cũng không nhắc đến việc đưa đất ngập nước Hà Nội vào quy hoạch tổng thể của Hà Nội.

Một khía cạnh khác của chức năng điều chỉnh lại tác động đến văn hóa, như hệ thống đê điều. Tác giả nghiên cứu cho rằng: “Cùng với nền văn minh lúa nước, người dân Việt đã xây dựng hàng loạt công trình thủy lợi đồ sộ và hợp lý nhất”. Nhưng lại có ý kiến khác:

Học giả Pháp Pierre Gourou vào đầu thế kỷ 20 từng viết: “Châu thổ sông Hồng đã bị chết trong tuổi vị thành niên của nó”. Có thể nói từ thời Lê, đồng bằng châu thổ sông Hồng đã chấm dứt giai đoạn phát triển tự nhiên của mình. Nó gần như bị cắt đứt liên hệ với chính con sông từng tạo ra và nuôi dưỡng. Dòng nước chứa nhiều phù sa của sông Hồng không còn tràn vào đồng bằng mà bị nhốt giữa hai thân đê.

Do vậy, đáy sông không ngừng bị nâng cao, nhiều doi cát giữa dòng và bãi bồi được hình thành, đặc biệt đoạn từ Sơn Tây đến Nam Định. Đó là nguyên nhân khiến từ đời này qua đời khác các con đê cứ phải được tôn tạo, đắp cao lên mãi.

Tiến sĩ địa chất thủy văn Tạ Hòa Phương, là người từ lâu quan tâm đến việc nghiên cứu địa hình của đới đứt gãy sông Hồng, cũng như tình trạng đê sông Hồng và những tác động của nó đến thủy văn của đồng bằng Bắc Bộ và vùng châu thổ sông Hồng tại Hà Nội nói riêng, cũng có cùng quan điểm. Cách đây hơn 10 năm, ông đã có ý kiến về việc nên bỏ bớt một số đoạn đê sông Hồng. Ông cho rằng: “Việc đắp đê sông Hồng là quyết định đúng đắn thời kỳ đầu. Năm 1108, vào thời Lý, con đê đầu tiên được đắp ở phường Cơ Xá chỉ có nhiệm vụ bảo vệ kinh thành Thăng Long. Những con đê thấp được đắp vào đời Trần (1225-1400) chỉ cốt giữ cho nước không tràn vào đồng ruộng để kịp làm vụ chiêm, sau khi mùa màng thu hoạch xong thì nước được tự do tràn vào đồng ruộng – một giải pháp có thể chấp nhận được”.

Nhưng những con đê bề thế được đắp mới và tôn tạo trên hai bờ Nhị Hà (sông Hồng) vào triều Lê Sơ (1428-1527) đã là sự can thiệp vào tự nhiên quá giới hạn cho phép.

Bị kìm kẹp giữa hai thân đê, sông Hồng càng trở nên hung dữ, đã “giãy giụa”, bứt phá, gây ngập lụt triền miên vào thời Nguyễn. Cũng chính trong thời Nguyễn, đã có nhiều ý kiến đề nghị xem xét vấn đề bỏ hay giữ đê. Ví dụ, vào thời Minh Mạng, năm 1833, Đoàn Văn Trường, Đặng Văn Thiêm và Trịnh Quang Khanh đã dâng sớ xin khai sông thay vì đắp đê, tạm bỏ đê ở Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định. Sau 10 năm tăng cường tôn tạo và đắp đê, vua Minh Mạng đã cho áp dụng biện pháp thử bỏ đê và tiến hành đào sông Cửu An để tiêu lũ.

Ngoài ra, các ca khúc cũ và mới với thời gian, được lấy cảm hứng từ “sông, nước” Hà Nội, chưa được nhóm nghiên cứu nhắc đến như một kho tàng văn hóa to lớn của đất ngập nước Hà Nội, như trong các tác phẩm:

  • Hà Nội mùa vắng những cơn mưa (Trương Quý Hải): “Quán cóc liêu xiêu một câu thơ, Hồ Tây tím mơ… Đường Cổ Ngư xưa chầm chậm bước ta về”.
  • Nhớ mùa thu Hà Nội (Trịnh Công Sơn): “Hồ Tây chiều thu, mặt nước vàng lay bờ xa mời gọi, Màu sương thương nhớ, bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời.

·         Gửi người em gái (Đoàn Chuẩn): “Đêm tân xuân, Hồ Gươm sao long lanh”.

·         Hà Nội và tôi (Lê Vinh): “Đêm lặng nghe trong gió, Tiếng sông Hồng thở than”.

  • Mùa xuân làng lúa làng hoa (Ngọc Khuê): “Hồ Tây xanh mênh mông trong tươi thắm nắng chiều”.

·         Trời Hà Nội xanh (Văn Ký): “Hồ Gươm xanh như mái tóc em xanh…”.

·         Nhớ về Hà Nội (Hoàng Hiệp): “Hồ Gươm xanh thắm nơi Tháp Rùa soi bóng”.

  • Người Hà Nội (Nguyễn Đình Thi): “Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây, Đây lắng hồn núi sông ngàn năm…”.