Rừng ngập mặn, sinh kế và biến đổi khí hậu tại Hoành Bồ, Quảng Ninh


Lê Xuân Tuấn1, Vũ Thị Bích Hợp2, Phan Thị Anh Đào3

1 Viện Nghiên cứu Quản lý Biển và Hải đảo, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

2 Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững

3 Viện Nghiên cứu Khoa học Khí tượng Thủy Văn và Môi trường

Vùng ven biển có rừng ngập mặn là khu vực tập trung đông dân cư sinh sống lâu đời. Rừng ngập mặn (RNM) đóng vai trò quan trọng không chỉ đối với bảo tồn đa dạng sinh học vùng ven biển mà còn đối với sinh kế và an sinh của người dân địa phương. Trong những năm gần đây, nhiều loại hình kinh tế đã được phát triển tại khu vực ven biển nhằm phát huy tối đa tiềm năng và tài nguyên của khu vực này. Bên cạnh việc góp phần nâng cao cơ sở hạ tầng, đời sống của người dân địa phương, các hoạt động kinh tế cũng đưa đến những tác động tiêu cực nhất định đến môi trường và các hệ sinh thái ven biển trong đó có rừng ngập mặn.

Theo Josie Huxtable và Nguyễn Thị Yến (2009), biến đổi của khí hậu sẽ tác động đến hoạt động sinh kế như du lịch, do gây thiệt hại đến cơ sở hạ tầng (hạn chế tiếp cận thị trường) và người nghèo nhất ít có khả năng được bảo vệ bởi các khoản đầu tư trong các hệ thống cơ sở hạ tầng hoặc giảm nhẹ thiên tai và cứu trợ. Kết quả của một nghiên cứu về biến đổi khí hậu và hệ sinh thái rừng ngập mặn (EMF) tại Việt Nam cho thấy có 6 yếu tố ảnh hưởng đến hệ sinh thái nhạy cảm này: (1) nhiệt độ, (2) lượng mưa, (3) gió mùa Đông Bắc, (4) bão; (5) thủy triều dâng; (6) hoạt động của con người (Hồng, 1993). Đặc biệt, mực nước biển tăng, nhất là vào những ngày mà cơn bão kết hợp với triều cường có thể gây ra thiệt hại lớn đến tài sản của các cộng đồng ven biển và xói lở bờ biển, bao gồm các vùng rừng ngập mặn phòng hộ (Hồng, 1993). Nghe

Đọc ngữ âm

Mực nước biển tăng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho một số cây rừng ngập mặn phát tán bằng cách xâm nhập vào đất liền và đất nông nghiệp, từ đó có thể ảnh hưởng đến sản lượng lương thực và đa dạng sinh học. Một số động vật nước ngọt và các loài thực vật sẽ biến mất và được thay thế bằng các loài nước lợ, mặn. Mực nước biển dâng cũng sẽ cản trở việc tích tụ phù sa ở các bãi triều ảnh hưởng đến sự tái sinh tự nhiên của một số loài cây ngập mặn như Mắm (Avicennia). Biến đổi khí hậu được dự báo sẽ tác động đáng kể về nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Số lượng cá nhiệt đới có giá trị thương mại thấp (trừ cá ngừ) sẽ tăng và số lượng các loài cá cận nhiệt đới có giá trị thương phẩm cao hơn sẽ giảm. Hơn nữa, sự suy giảm mạnh sinh vật phù du sẽ dẫn đến di cư của cá và giảm sản lượng đánh bắt cá. Ước tính rằng sản lượng đánh bắt cá và thu nhập từ các ngành kinh tế biển của Việt Nam sẽ giảm ít nhất một phần ba (Tuấn, 2006; Hồng, 2008). Do sự dâng cao mực nước biển, các trang trại nuôi trồng thủy sản sẽ phải di dời do xâm mặn, làm giảm diện tích rừng ngập mặn sẽ làm mất môi trường sống cho các loài sinh vật nước ngọt.

Ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang là thách thức lớn với nhiều nước trong đó có Việt Nam. Trong bối cảnh có xu hướng rõ rệt về biến đổi khí hậu, dẫn đến sự gia tăng bão, thiên tai,… việc bảo vệ, quản lý tốt rừng ngập mặn ngày càng trở thành vấn đề cấp thiết ở vùng ven biển nói chung và ở huyện Hoành Bồ, Quảng Ninh nói riêng. Tuy nhiên, bài toán mâu thuẫn giữa lợi ích của việc bảo tồn và phát triển kinh tế, sinh kế cho cộng đồng ven biển vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng, dẫn đến nhiều khó khăn trong công tác quản lý, phát triển rừng ngập mặn. Để có thể bảo vệ rừng ngập mặn một cách bền vững thì những giải pháp đưa ra phải thực sự xuất phát từ thực tế của địa phương, từ điều kiện cuộc sống người dân, cũng như vai trò của những bên liên quan đến rừng ngập mặn. Vì vậy, trong nghiên cứu này, vai trò của hệ sinh thái rừng ngập mặn, sinh kế và vai trò của các bên tham gia trong phát triển kinh tế xã hội, sinh kế cũng như khai thác, sử dụng tài nguyên rừng ngập mặn ở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh sẽ được phân tích nhằm cung cấp thông tin cho việc xây dựng khuyến nghị cho các hoạt động phát triển sinh kế bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và thúc đẩy quản lý tài nguyên thiên nhiên trong khu vực rừng ngập mặn.

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, một số phương pháp, công cụ trong đánh giá nhanh nông thôn với sự tham gia (PRA) như thu thập và phân tích thông tin thứ cấp, sơ đồ Venn, thảo luận nhóm, xếp hạng, phân tích SWOT và quan sát thực địa đã được áp dụng vào tháng 5 năm 2010. Đại diện người dân, các hiệp hội, cán bộ xã, cán bộ quản lý tài nguyên môi trường, nông nghiệp và phát triển nông thôn đã được mời tham gia nghiên cứu. 

Nguồn: CRES: Kỷ yếu hội thảo quốc gia Môi trường trong phát triển bền vững, năm 2010, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật  

Xem chi tiết: Liên hệ với thư viện CRES